Đặc điểm của đại lý thương mại

Người gửi: Dương Lê | Thời gian gửi: 12-07-2018 14:19

Trong: Tư vấn mở đại lý phân phối | Trả lời: 1 | Lần xem: 96

Chi tiết câu hỏi

Đặc điểm của đại lý thương mại?

Danh sách câu trả lời (1)

timnhaphanphoi.vn

Trả lời:

Điều 166 Luật thương mại 2005 quy định: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên địa lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.”

Theo quy định của Luật thương mại Việt Nam hiện hành, đại lý thương mại có những đặc điểm cơ bản:

Thứ nhất, trong quan hệ đại lý có sự tham gia của ba bên chủ thể: bên giao đại lý, bên đại lý và bên thứ ba.

 Trong quan hệ đại lý, song song tồn tại hai nhóm quan hệ: thứ nhất là quan hệ giữa bên giao đại lý và bên đại lý; thứ hai đó là quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba. Các quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng. Hai nhóm quan hệ này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan hệ giữa bên đại lý và bên giao đại lý là tiền đề cho những giao dịch của bên đại lý với bên thứ ba. Bên giao đại lý có ủy quyền cho bên đại lý thực hiện việc mua bàn hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho mình thì bên đại lý mới được nhân danh chính mình tiến hành giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên giao đại lý.

Thứ hai, bên đại lý nhân danh chính mình tién hành giao dịch thương mại với bên thứ ba vì lợi ích của bên giao đại lý để hưởng thù lao.

Trong hoạt động đại lý thương mại, bên đại lý phải là thương nhân, là các tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại một cách thường xuyên và có đăng kí kinh doanh theo Điều 6 Luật Thương mại 2005. Các thương nhân này có tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập với bên giao đại lý và bên thứ ba. Họ không phải là người làm công ăn lương như giám đốc (tổng giám đốc) doanh nghiệp, không phải là chi nhánh hay văn phòng đại diện của bên thuê dịch vụ. Những người này chỉ được thực hiện hoạt động trong phạm vi, quyền hạn theo quy định trong nội bộ thương nhân đó. Còn bên đại lý thương mại có trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự định đoạt thời gian làm việc, thực hiện mọi quyền hạn có được của mình và tự chịu trách nhiệm về những hoạt động đó.

 

Mặc dù có tư cách pháp lý độc lập, bên đại lý thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ không vì lợi ích của bản thân mà vì  lợi ích của bên giao đại lý. Lợi ích mà họ nhận được trong hoạt động kinh doanh này không phải lợi nhuận từ việc mua bán hàng hóa mà là thù lao họ nhận được từ bên thuê dịch vụ khi họ hoàn thành công việc của mình. Khác với hoạt động đại lý, việc trả thù lao cho bên thực hiện dịch vụ không phải nghĩa vụ bắt buộc với bên thuê dịch vụ trong giao dịch dân sự.

Thứ ba, phạm vi hoạt động của đại lý thương mại

Phạm vi hoạt động là giới hạn hay những lĩnh vực thương mại mà ben đại lý được thực hiện theo sự ủy quyền của bên giao đại lý để giao kết hợp đồng với bên thứ ba. Luật thương mại 2005 đã mở rộng phạm vi hoạt động của đại lý thương mại so với Luật thương mại 1997 và các văn bản khác về đại lý. Luật thương mại 2005 quy định đại lý thương mại không chỉ hoạt động trong lĩnh vực mua bán hàng hóa nà còn cả cung ứng dịch vụ. Luật thương mại 2005 không quy định các loại dịch vụ thương mại. Đối với các loại hành hóa , dịch vụ kinh doanh cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì đại lý phải tuân thủ những quy định của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 13/06/2006 Quy định chi tiết Luật thương mại 2005 về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.

Thứ tư, cơ sở phát sinh đại lý thương mại

Quan hệ đại lý thương mại được xác lập bằng hợp đồng, được gọi là hợp đồng đại lý. Hợp đồng đại lý được giao kết giữa thương nhân giao đại lý và thương nhân làm đại lý. Hợp đồng chính là kết quả của sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thế. Theo Điều 168  Luật thương mại, “Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”. Quy định này thể hiện sự rõ ràng, mạch lạc trong việc ghi nhận những thỏa thuận. Với quy định này, một mặt các bên có thể dễ dàng thực hiện những điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, mặt khác đó cũng là cơ sở để giải quyết những tranh chấp sau này.

12-07-2018 14:19 · Trả lời